Năm Số hiệu VB Nội dung hướng dẫn
2023 Sổ tay Thẩm phán năm 2023 của Tòa án nhân dân tối cao [PDF] Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên” đối với những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của bị cáo có nhận biết được hay không nhận biết được.
”Phụ nữ có thai” được xác định bằng các chứng cứ chứng minh là người phụ nữ đó đang mang thai, như: bị cáo và mọi người đều nhìn thấy được hoặc bị cáo nghe được, biết được từ các nguồn thông tin khác nhau về người phụ nữ đó đang mang thai. Trong trường hợp thực tế khó nhận biết được người phụ nữ đó đang có thai hay không hoặc giữa lời khai của bị cáo và bị hại về việc này có mâu thuẫn với nhau thì để xác định người phụ nữ đó có thai hay không phải căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn y tế hoặc kết luận giám định.
2020 Tài liệu giải đáp khó khăn, vướng mắc tại Hội nghị tập huấn công tác THQCT và KSXX các VAHS (V7, V14 VKSTC) [PDF] **18. Tình tiết “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên” theo điểm i, khoản 1, Điều 52 BLHS được áp dụng đối với loại tội phạm nào?
Trả lời:**
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên” theo điểm i, khoản 1, Điều 52 BLHS được áp dụng đối với tất cả các loại tội phạm với lỗi cố ý, có đối tượng tác động của tội phạm là các chủ thể nêu trên.

4. Khái niệm “Người già yếu” được hiểu như thế nào? Trả lời: Nghiên cứu các quy định liên quan của BLHS năm 2015 và tham khảo nội dung hướng dẫn của Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 và Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về thi hành BLHS năm 1999, thì “Người già yếu” có thể được hiểu là người từ đủ 70 tuổi trở lên và có sức khỏe loại yếu (thường xuyên đau ốm). | | 2006 | Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của HĐTP TANDTC [WORD] | “Phụ nữ có thai” được xác định bằng các chứng cứ chứng minh là người phụ nữ đó đang mang thai, như: bị cáo và mọi người đều nhìn thấy được hoặc bị cáo nghe được, biết được từ các nguồn thông tin khác nhau về người phụ nữ đó đang mang thai. Trong trường hợp thực tế khó nhận biết được người phụ nữ đó đang có thai hay không hoặc giữa lời khai của bị cáo và người bị hại về việc này có mâu thuẫn với nhau thì để xác định người phụ nữ đó có thai hay không phải căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn y tế hoặc kết luận giám định45. Chỉ áp dụng tình tiết “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên” đối với những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của bị cáo có nhận biết được hay không nhận biết được người bị xâm hại là người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên. | | 1999 | Công văn số 16/1999/KHXX ngày 01/2/1999 của Toà án nhân dân tối cao về Giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng [WORD] | Không phải trong mọi trường hợp mà người bị hại do tội phạm gây ra là trẻ em đều phải áp dụng tình Tiết tăng nặng “phạm tội đối với trẻ em” quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự. Chỉ coi là phạm tội đối với trẻ em và phải áp dụng Điểm e Khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự đối với người phạm tội trong trường hợp người phạm tội cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của trẻ em. Việc phụ thuộc vào nhận thức của bị cáo chỉ là bắt buộc khi được quy định rõ trong cấu thành của tội phạm. Ví dụ: Trong cấu thành của các tội: Tội giết người (Điều 123), Tội bức tử (Điều 130), Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại có sức khỏe của người khác (Điều 134), Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137), Tội hành hạ người khác (Điều 140), Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 149), Tội cướp tài sản (Điều 168), Tội ra bản án trái pháp luật (Điều 370) đều quy định rõ “...mà biết là có thai”. |